Gấc

1. Tên khoa học:Momordica cochinchinensis (Lour) Spreng.

2. Họ:Bầu bí (Cucurbitaceae).

3. Tên khác: Mộc miết, Muricic (Pháp), Cochinchina Momordica (Anh).

4. Mô tả:

Cây gấc là một loại dây leo, mỗi năm lụi một lần, nhưng lại đâm chồi từ gốc cũ lên vào mùa xuân năm sau. Lá mọc so le, chia thùy khía sâu tới ½ phiến lá. Hoa đực, hoa cái riêng biệt, cánh hoa màu vàng nhạt. Mùa hoa tháng 4-5. Quả hình bầu dục dài độ 15-20cm, đáy nhọn, ngoài có nhiều gai, khi chín màu vàng đỏ đẹp tươi. Mùa quả tháng 6 đến tháng 2 năm sau. Gấc nếp thì thưa gai hơn gấc tẻ. Trong quả có nhiều hạt xếp thành những hàng dọc, quanh hạt có màng màu đỏ máu, tươi. Bóc lớp màng đỏ sẽ thấy hạt hình gần giống con ba ba nhỏ, ngoài có lớp vỏ cứng, mép có răng cưa. Trong hạt có nhân trắng chứa nhiều dầu.

5. Phân bố:

Gấc mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta.

6. Trồng trọt:

Trồng bằng hạt hay dâm cành bánh tẻ vào tháng 2-3 khi tiết trời ấm áp. Cây ưa đất tơi xốp, cao ráo, nhiều mùn, ẩm mát; trồng một năm thu hoạch nhiều năm. Trồng bằng hạt đã đồ chín hay chưa đồ chín cây vẫn cho quả.

Trước khi trồng 1 tháng, đào hố sâu 30cm, rộng 30-40cm. Đổ mùn rác, phân chuồng vào hố cho ải mục, chờ thời vụ tiến hành gieo trồng. Mỗi hố gieo thẳng 4-5 hạt. Lấp đất kín hạt chừng 2-3cm. Trồng bằng hạt, phải chờ khi có hoa mới biết được cây đực hay cây cái. Sau đó, cắt bỏ cây đực, chăm sóc cây cái. Mỗi hố chỉ để lại 1-2 cây.

Muốn nhân giống có hiệu quả, cần trồng bằng cách giâm cành. Chọ cành bánh tẻ của cây gấc 2-3 tuổi. Cành dài 40-50cm, có nhiều đốt. Khoanh vòng tròn rồi đặt vào hốc đã được chuẩn bị sẵn. Lấp đất 3-5cm. Sau đó, phủ rơm rác để giữ ẩm. Giâm cành vào tháng 3-4 là thích hợp. Chú ý không làm giập nát và sát trùng ccác vết cắt bằng tro beepsd hay vôi bột. Trồng xong tưới nhẹ và giữ đất luôn ẩm và tơi xốp. Không nên tưới nhiều nước, đất quá ẩm gây thối cành giâm. Sau khi trồng độ 25-30 ngày, mầm sẽ mọc. Cần làm giàn leo kịp thời, khi cây cao 25-30cm. Có thể cho gấc leo vào cây khác nhưng sản lượng quả ít. Phải làm giàn đủ diện tích leo, hoa quả mới nhiều, giàn phải thoáng để hoa đón nhận được nhiều ánh sáng, quả sẽ ít bị thối và đỡ rụng khi còn non. Trên giàn cắt tỉa bớt cành ở chỗ dày, nếu nhiều lá cần ngắt bớt lá. hàng năm, chăm bón gấc vào mùa xuân, đầu mùa hè và sau khi thu hái quả. năm đầu, cây đã có quả nhưng ít, càng về sau càng nhiều. Quả chín bắt đầu từ tháng 8-9 và kéo dài đến tháng 1-2 năm sau. Mùa thu hoạch quả kết thúc vào teete Nguyên đán. Sau khi thu hết quả, cần cắt bớt thân hoặc các cành to chỉ để chừa lại đoạn gốc dài 50cm. Sang xuân, cây tái sinh, cành mới lại mọc cho nhiều quả và quả to. Đồng thời bón phân chuồng 5-10kg mỗi gốc tuỳ tuổi cây. Nên bón thêm phân lân và tro bếp. Gấc được trồng trên đất cao ráo, thoát nước, chăm bón chu đáo có thể sống 10-15 năm.

7. Thu hái, chế biến:

Quả chín thu hoạch vào tháng 8-2. Lấy hạt còn màng màu đỏ, phơi hoặc sấy nhẹ đến se màng. Tách riêng màng để chiết dầu. Màng hạt gấc sấy khô, tán nhỏ rồi ép như ép dầu lạc, hoặc cho vào dầu lạc hay mỡ lợn đã được đun nóng 60-70oC; nếu muốn chiết kiệt thì dùng dung môi là ether dầu hoả.

8. Bộ phận dùng:

Màng hạt, nhân hạt (Mộc miết tử - Semen Momordicae), rễ.

8.1. Hạt gấc: Còn gọi là Mộc miết tử là hạt lấy ở quả gấc chín (Semen Momordicae) đã bốc vỏ màng và chế biến khô.

8.2. Dầu gấc: (Oleum Momordicae) là dầu ép từ màng đỏ bọc hạt gấc.
8.3. Rễ gấc: Còn gọi là Phòng kỷ nam là rễ cây gấc (Radix Momordiae) phơi khô.

9. Thành phần hoá học:

Nhân hạt Gấc có khoảng 6% nước, 8,9% chất vô cơ 55,3% acid béo 16,5% protein, 2,9% đường. 1,8% tanin, 2,8% cellulose và một số enzym. Hạt gấc chứa acid momordic, gypsogenin, acid oleanolic, acid a- elacostearic, còn có acid amin, alcol. Dầu gấc chứa acid oleic 44,4%, acid linoleic 14,7%, acid stearic 7,89%, acid palmatic 33,8%. Màng hạt Gấc chứa một chất dầu màu đỏ mà thành phần chủ yếu là b-caroten và lycopen là những tiền sinh tố A khi vào cơ thể sẽ biến thành vitamin A, lượng b-caroten của Gấc cao gấp đôi của Cà rốt. Thân củ chứa chondrillasterol, cucurbitadienol, 1 glycoprotein và 2 glycosid có tác dụng hạ huyết áp. Rễ chứa momordin một saponin triterpenoid; các chiết xuất cồn có sterol, bessisterol tương đương với spinasterol.

10. Công dụng, cách dùng:

10.1. Màng gấc: Nhân dân ta dùng đồ xôi, ăn cả xôi và màng gấc.

10.2. Dầu gấc: Dầu gấc có tác dụng như những thuốc có vitamin A, dùng bôi lên các vết thương, vết loét, vết bỏng làm cho chóng lành, lên da. Uống dầu gấc, người bệnh chóng lên cân, tăng sức chống đỡ bệnh tật của cơ thể, do chất caroten dưới tác dụng của men carotenase có nhiều trong gan sẽ tách caroten thành hai phần tử vitamin A. Dùng cho trẻ em chậm lớn trong bệnh khô mắt, quáng gà. Liều dùng dầu gấc: Mỗi ngày 2 lần, uống trước 2 bữa ăn chính mỗi lần ăn chính mỗi lần 5 giọt, có thể tăng lên 25 giọt. Trẻ em 5-10 giọt 1 ngày. Dùng ngoài dưới dạng thuốc mỡ 5-10p100 dầu gấc hay bơi bằng dầu nguyên chất (chữa bỏng).

10.3. Hạt gấc: Theo Đông y, hạt gấc vị đắng, hơi ngọt, tính ấm, có độc, dùng chữa các chứng bệnh ung thũng, mụn nhọt độc, tràng nhạt, eczema, viêm da thần kinh, trĩ, phụ nữ sưng vú. Có thể chế thuốc viên hay tán bột uống. Liều uống từ 0,8-1,2g. Nhưng thường dùng đắp ngoài da đồ mụn nhọt. Nhân dân ta còn dùng để đắp chữa chai bàn chân.

10.4. Rễ gấc: Sao vàng, tán mỏng, dùng uống chữa tê thấp sưng chân gọi là Phòng kỷ nam.

10.5. Lá gấc: Viện Đông y dùng lá gấc với tầm gửi đắp ngoài ra làm thuốc tiêu sưng tấy.
Chú ý: Nhân hạt gấc còn gọi là Phiên mộc miết, theo Đông y có tính rất lạnh, ăn phải thì cấm khẩu nguy hiểm.

 
Copyright © 2013 by Công ty Cổ phần Dược liệu Trung ương 2
 
24 Nguyễn Thị Nghĩa - P. Bến Thành - Quận 1 - Tp Hồ Chí Minh
Hotline: (+84) 0989 183 888 - Tel: (+84) 028 3832 3058 - Fax: (+84) 028 3853 9126 - Email: info@phytopharma.vn