Actiso

1. Tên khoa học: Cynara scolymus L.,

2. Họ:  Cúc (Asteraceae).


3. Tên khác:

4. Mô tả thực vật:

Cây thảo cao 1-1,2m, thân cây có lông mềm và có khía dọc. Lá to dìa, mọc so le; phiến lá ở gốc chia thuỳ lông chim 2-3 lần, các lá ở ngọn gần như nguyên, mặt trên màu lục, mặt dưới có lông trắng, cuống lá to và ngắn. Cụm hoa hình đầu ở ngọn các nhánh của thân, gồm nhiều hoa hình ống màu lam tím đính trên một đế hoa nạc đường kính 6-15cm, được bao bởi nhiều lá bắc ở gốc, có chóp nhọn. Quả bế nhẵn với các tơ trắng dài hơn quả và dính nhau ở gốc, thành vòng dễ tách ra khi quả chín. Hạt không có nội nhũ.

Mùa hoa: tháng 12-2.

5. Phân bố:
Cây được người Pháp mang sang Việt Nam từ thế kỷ 19 trồng ở những nơi núi cao có khí hậu mát như Sapa, Mường Khương (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc)...
6. Trồng trọt:

 Áctisô ưa khí hậu lạnh mát quanh năm. Nhiệt độ thích hợp khoảng 15-18oC. Ở Việt Nam thường trồng ở độ cao 1.000 – 1.500m so với mặt biển. Ở độ cao này, cây có thể sống nhiều năm, vừa sản xuất giống, vừa cung cấp dược liệu. Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, có thể trồng Ác ti sô vào vụ đồng xuân. Ác ti sô là cay sinh trưởng mạnh, cho nên cần chọn đất màu dày, thoát nước và bón nhiều phân.

Trồng Ác ti sô bằng hạt và mầm nhánh. Trồng ở miền núi cao mát, cây vừa ra hoa quả, vừa đẻ mầm nhánh xung quanh gốc. Ở miền núi các tỉnh phía Bắc, có thể gieo hạt vào tháng 1,2 hoặc vào cuối thu (tháng 9,10). Tuổi ở vườn ươm là 45-50 ngày. Khi cây có lá xẻ lông chim có thể đánh trồng.

Ở đồng bằng và trung du Bắc bộ, gieo vào đầu tháng 10, đánh trồng vào hạ tuần tháng 11.

Sau khi làm đất nhỏ, lên luống cao 20-25cm, mặt luống rộng 40cm, bổ hốc thánh một hàng giữa luống. Hốc cách nhau 70-80cm. Dùng phân chuồng mục 10-15 tấn/ha, bón lót. Mỗi ha trồng khoảng 10.000 cây, thúc nước phân chuồng hoặc phân đạm 2-3 lần tuỳ tình hình sinh trưởng của cây, tưới thúc lần thứ nhất sau khi trồng độ 15 ngày, lần thứ 2 cách lần thứ nhất 20 ngày. Có thể dùng đạm urê 80-100kg/ha cho mỗi lần tưới. Làm cỏ vun xới kết hợp khi tưới thúc. Về sau, mỗi tháng làm corvun xới một lần cho đến khi cây giao tán. Ở đồng bằng và trung du bắc bộ, khoảng đầu tháng 2 có thể ngừng chăm sóc.

Ở miền núi, có thể trồng Ác ti sô một lần và thu hoạch trong 2-3 năm. Cây mẹ lụi đi, cây con lại tiếp tục phát triển. Sau khi trồng 3 tháng, có thể bắt đầu thu hái. Dùng dao sắc tỉa lá. Tuỳ khả năng chăm sóc, mỗi năm có thể thu hái 2-3 lần. Sau mỗi lần thu hái, cần bón thúc, làm cỏ và vun xới.

Ở đồng bằng, thường thu hái một lần vào tháng 4-5 tuỳ tình hình thời tiết.

Cắt toàn bộ thân lá về xử lý, có thể dùng cả rễ làm thuốc. Dùng hơi nước sôi có áp lực cao để xử lý nhanh thân lá. Sau đó phơi hoặc sấy khô.

Khả năng di thực: Cây Áctisô có khả năng phát triển tốt ở những vùng có khí hậu mát mẻ như Sapa.

Khả năng phát triển vùng chuyên canh: Hiện nay, người ta đã triển khai vùng chuyên canh cây Ác ti sô tại một số nơi như Sapa. Chỉ cần có khí hậu phù hợp là loài cây này sẽ phát triển dễ dàng.

7. Thu hái chế biến:
Thu hái cụm hoa chưa nở làm rau ăn vào tháng 12-2. Còn lá được thu hái lúc cây sắp ra hoa hoặc đang có hoa. Rọc bỏ sống lá đem phơi nắng hoặc sấy khô.

8. Bộ phận dùng :

Lá (Folium Cynarae scolymi)

Hoa (Flos Cynarae scolym


9. Thành phần hoá học:

Cụm hoa chứa protid: 3%, lipid: 0,1-0,3%, đường: 11-15,5% (gồm chủ yếu là Inulin, cần cho người bị bệnh đái đường), 82% nước; còn có các vitamin A, B1, B2, C và các chất khoáng mangan, phospho, sắt. 100g hoa Áctisô cung cấp cho cơ thể 50-70 calo.

Lá cây chứa một chất kết tinh là một glycosid có tên Cynarin có công thức C25H24O12.H2O, mang hai phân tử acid cafeic và một phân tử acid quinic. Trong lá cây tươi còn có tanin, hai heterosid flavonic là cyanosid và một chất không tan trong ether gọi là scolymosid.

10. Công năng:

Chống lão hóa, giải độc, hạ mỡ máu, mát gan, lợi tiểu.


11. Công dụng:

Bông Áctisô bổ dưỡng, kích thích tiêu hoá, bổ gan, trợ tim, lợi tiểu, chống độc, tăng tiết sữa, giảm đau dạ dày, rất cần cho những người bị đái tháo đường.

Thân lá chữa thiểu năng gan, vàng da, hạ cholesterol máu, vữa xơ động mạch, thừa urê huyết, thống phong, thấp khớp, sỏi niệu đạo, thuỷ thũng, làm tăng sự bài niệu. Áctisô là cây thuốc lợi mật được biết từ nhiều thế kỷ.

Có thể nói vị Áctisô và các chế phẩm của nó tạo nên một nhân tố kinh điển của thực vật liệu pháp nhằm kích thích sự bài tiết mật, kích thích tiêu hoá và tăng cường các chức năng bài tiết thận và tiêu hoá.

Cách dùng: Người ta sử dụng Áctisô dưới nhiều dạng, có thể dùng tươi hay khô hãm uống, sắc nước uống hặc nấu thành cao lỏng, cao mềm. Còn có dạng chiết tươi bằng cồn hoặc làm cồn thuốc.

12. Cách dùng, liều lượng:

Ngày 6-12g dưới dạng thuốc sắc hay chè thuốc, cao mềm, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Trên thị trường có chế phẩm cao actiso dưới dạng viên nang và các chế phẩm dạng trà thuốc

 

Theo hocvienquany.vn

 

 
Copyright © 2013 by Công ty Cổ phần Dược liệu Trung ương 2
 
24 Nguyễn Thị Nghĩa - P. Bến Thành - Quận 1 - Tp Hồ Chí Minh
Hotline: (+84) 0989 183 888 - Tel: (+84) 028 3832 3058 - Fax: (+84) 028 3853 9126 - Email: info@phytopharma.vn